dáng bonsai (p.9)

SO SÁNH PHONG CÁCH TRONG NGHỆ THUẬT TẠO DÁNG BONSAI

Mỗi sự thành công trong tác phẩm nghệ thuật đều xuất phát từ sự kết hợp hài hòa của các bộ phận trong một chỉnh thể. Đó chính là sự thống nhất các mặt đối lập. Dưới đây là các ví dụ điển hình nhằm giúp độc giả có sự so sánh phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong từng cặp bonsai, góp phần tăng cường óc quan sát và sự cảm nhận nghệ thuật tinh tế.

1. Cường và nhược (mạnh và yếu)

Hai trường hợp này giống nhau ở trục tung (hướng lên) nhưng khác nhau ở trục hoành.
Cây bên trái trông cường tráng, chắc khỏe.
Cây bên phải lại quá mỏng manh, yếu ớt.

2. Động và tĩnh

Cảm giác “động” ở hình bên trái thể hiện rất rõ nét thông qua sự đối kháng giữa thân và nhánh (xem phần “kiểu phong xúy”) làm chuyển đổi từ thế không cân bằng sang thế cân bằng, còn hình bên phải lại thể hiện tư thái ôn hòa, bình thản đó chính là cảm giác “tĩnh”.

3. Cỗ và nhã

Thông qua các vết sẹo, hốc cây và rễ cây kiểu “bàn lộ”, hình bên trái được toát lên chủ để “cổ xưa” ngay khi vừa mới đập vào mắt người xem. Hình bên phải là đối kháng của hình tượng cổ bởi những đặc tính cổ đã được giảm đi mặc dù cả hai đều có tư thế giống nhau. Đó chính là đặc điểm của “Nhã”.

4. Xảo và Chuyết (khéo và vụng)

Ngoại hình khéo léo tạo cho người xem cảm nhận được nét thanh tú, linh hoạt nhưng lại trông có vẻ yếu ớt. Ở hình bên phải tuy mộc mạc chân chất, đường nét đơn giản nhưng lại gây được ấn tượng về sự chính trực, nghiêm túc.

5. Cương và Nhu

Cùng một cách xử lý nhánh và thân chính giống nhau, nhưng do khác nhau về hình dạng bên ngoài nên tính chất “cương” và “nhu” ở mỗi hình thể hiện rất rõ.

6. Thu và Phóng

Một bên thì thân và nhánh gấp khúc quá nhiều tạo cảm giác dày và chật chội, tập trung theo xu hướng hoài cổ. Đố chính là đặc điểm “thu”. Còn bên kia thì cả thân và nhánh đều tương đối thẳng, xú hướng rõ tàng độ khai phóng lớn, đó là đặc điểm “phóng”,

7. Ổn và Dao (ổn định và dao động)

Để tạo được thế “ổn” phải có cơ sở lớn và vững chắc, thường là “thượng trọng, hạ khinh” (trên nặng, dưới nhẹ). Còn thế “động” bao giờ cơ sở của nó cũng yếu hơn. độ chùng của các nhánh cao cho ta cảm giác phiêu bồng, bay bay. Cái khác của hai dạng này chính là ở chỗ cơ sở của nó.

8. Lộ và Tàng (lộ ra và giấu kín)

Cách thể hiện “lộ” và “tàng” chính là để nhấn mạnh nội dung tác phẩm. “Tàng” là cách buộc người ta phải tưởng tượng, còn “lộ” ại bộc bạch rõ ý muốn trình bày. Hai cách thể hiện này có thể tổn tại thống nhất trong cùng một tác phẩm nhưng chủ đề phải rõ ràng ở một mặt nào đó thôi.

9. Hư và Thực

Quan hệ giữa “hư” và “thực” trong cùng một tác phẩm phải được phân công rõ ràng. “Hư” không buộc người khác suy nghĩ lắm, còn “thực” lại mang cho người ta cảm giác cụ thể.

10. Trọng và Khinh (nặng và nhẹ)

“Trọng” và “Khinh” là mấu chốt cơ bản của nghệ thuật bonsai. Nếu các nhánh lá trên dày thì biểu thị “Trọng”. Các nhánh phần dưới thưa thì biểu thị “Khính”, Nhưng nếu các nhánh lá bộ phân phía dưới dày hơn phái trên thì biểu thị cảm giác rất nặng.

11. Ly và Hợp

Phương pháp “ly” và “hợp” là căn cứ trên độ phân tán và khoảng cách giữa các thân, cành nhưng cần đảm bảo nguyen tắc “ly và không phân tán, hợp và không dày”.

12. Khô và Vinh (khô và um tùm)

Khá niệm “khô” ở đay đã bao hàm nghĩa “cổ lão” đồng thời tăng cường thêm tính chất “thô” giảm đi sự xanh tốt của lá để đạt được tính chất giản dị, thuần phác. Còn “vinh” bao hàm cả sự “phồn vinh hưng thịnh” nên phải xanh tươi, rậm rạp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng
Lên đầu trang